Đã đến lúc sàng lọc FDI

Toàn cầu hóa và xu hướng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) diễn ra với tốc độ nhanh càng đòi hỏi Việt Nam có sự chọn lọc hơn trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nhất là chuyển từ số lượng sang chú trọng nhiều hơn chất lượng của dòng vốn này.

Chiến lược thu hút FDI cần linh hoạt, có thể điều chỉnh cho phù hợp với môi trường, nhất là môi trường quốc tế thay đổi nhanh hiện nay
Chiến lược thu hút FDI cần linh hoạt, có thể điều chỉnh cho phù hợp với môi trường, nhất là môi trường quốc tế thay đổi nhanh hiện nay

Các chuyên gia cho rằng định hướng chung là ưu tiên thu hút FDI vào những ngành công nghiệp thân thiện môi trường, công nghệ cao và sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao, tiếp tục tận dụng lợi thế so sánh nhưng cần hướng tới tạo dựng lợi thế cạnh tranh dựa vào đào tạo nhân lực.

FDI đạt mức  kỷ lục 

Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ KH&ĐT), từ đầu năm đến hết ngày 20/9, vốn FDI vào Việt Nam đã đạt mức kỷ lục 25,48 tỷ USD, tăng 34,3% so với cùng kỳ năm 2016.

Hiện có 126 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 19/21 ngành trong hệ thống phân ngành quốc dân, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất với 183,5 tỷ USD (chiếm 59,1% tổng vốn đầu tư). Đầu tư nước ngoài cũng ghi nhận ở tất cả 63 tỉnh, thành phố trong cả nước.

Tuy nhiên, dường như Việt Nam vẫn chưa tận dụng được hết những lợi ích từ các dòng vốn FDI. Gần 30 năm sau khi Luật Đầu tư nước ngoài có hiệu lực, một thực trạng phải thừa nhận là hoạt động kết nối kinh doanh giữa các nhà đầu tư trong và ngoài nước vẫn còn mờ nhạt, hiệu ứng lan tỏa về công nghệ và năng suất lao động từ các đối tác nước ngoài đến các doanh nghiệp (DN) trong nước còn rất hạn chế.

Điều này đặc biệt đúng trong lĩnh vực công nghệ cao, lĩnh vực được Chính phủ kỳ vọng về những tiến bộ của các DN tư nhân trong nước.

Báo cáo Tăng cường Năng lực cạnh tranh và liên kết của DN nhỏ và vừa của Ngân hàng Thế giới (WB) cho biết Việt Nam đã thành công trong việc thu hút FDI và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Nhưng hầu hết công ty trong nước có quy mô nhỏ và chỉ phục vụ thị trường nội địa.

“FDI đã mang lại những lợi ích to lớn cho Việt Nam về tăng trưởng, XK và việc làm nhưng ít quan tâm hơn đến phát triển mối liên kết với nền kinh tế trong nước”, WB nhận định.

Dẫn tới, tỷ lệ các DN nước ngoài sử dụng đầu vào sản xuất trong nước của Việt Nam thấp hơn đáng kể so với các nước so sánh, chỉ chiếm 2/3 DN FDI ở Việt Nam so với phần lớn DN FDI ở Trung Quốc, Malaysia và Thái Lan có sử dụng đầu vào trong nước tại các quốc gia này. Ngoài ra, xu hướng các DN FDI mua đầu vào trong nước dường như tỷ lệ nghịch với tỷ trọng xuất khẩu trực tiếp trong doanh thu và tỷ lệ vốn do nước ngoài sở hữu.

Điều này tái khẳng định phát hiện của các nghiên cứu trước đây cho rằng FDI tìm kiếm thị trường và liên doanh có xu hướng thiết lập liên kết ngược cao hơn các loại hình DN khác.

Cụ thể với ngành điện tử, các công ty nước ngoài dựa vào hệ thống nhà cung cấp của họ (các nhà cung cấp cấp 1 ở nước ngoài để có nguồn cung đầu vào).

Ví dụ, DN toàn cầu Samsung chủ yếu dựa vào các nhà cung cấp đầu vào trung gian của Hàn Quốc có trụ sở tại Việt Nam và chỉ có 4 nhà cung cấp Việt Nam trong tổng số 67 nhà cung cấp cho Samsung. Song 4 nhà cung cấp cấp 1 này chủ yếu là DN bao bì có giá trị gia tăng thấp.

Ở ngành công nghiệp ô tô, tỷ lệ nội địa hóa chỉ chiếm khoảng 10 – 20% so với 45% của Thái Lan. Giá trị gia tăng được tạo ra ở các giai đoạn giá trị gia tăng thấp, bao gồm lắp ráp, hàn và sơn.

Đã tới lúc thay đổi 

Ngoài ra, các DN trong nước chỉ đóng góp các chi tiết có giá trị gia tăng thấp và thâm dụng lao động như lốp, ắc quy và dây điện. Đến nay, có khoảng 200 – 300 DN sản xuất phụ tùng ô tô, nhưng phần lớn là các DN nhỏ và vừa với năng lực sản xuất và công nghệ thấp.

Về chuyển giao công nghệ, trong giai đoạn 2006 – 2015, gần 14.000 dự án FDI mới có khoảng 600 hợp đồng chuyển giao công nghệ (4,28%). Chưa kể, hơn 80% DN FDI sử dụng công nghệ trung bình của thế giới, 14% ở mức thấp và lạc hậu, chỉ 5 – 6% sử dụng công nghệ cao.

Trước thực trạng này, ông Hoàng Mạnh Tân, Phó Tổng Giám đốc công ty Cổ phần Quốc tế Sơn Hà, đánh giá, dòng vốn FDI vào Việt Nam mới chỉ giải quyết lao động, an sinh xã hội nhưng với cuộc CMCN 4.0 đang diễn ra khi rô-bốt hóa, DN FDI có thể điều khiển hoạt động từ nước ngoài thông qua hệ thống mạng, rõ ràng Việt Nam sẽ không thu được lợi.

Trong khi đó, các dự án của DN FDI đang chiếm giữ những vị trí đắc địa, hưởng những chính sách, lợi ích từ hiệp định thương mại tự do của Việt Nam.“Có lẽ họ vào để hưởng quyền lợi đó, trong khi người Việt không tham gia được nhiều trong chuỗi giá trị của họ”, ông Tân lo ngại.

Vì vậy, ông Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội DN đầu tư nước ngoài, nhấn mạnh, đây là thời cơ rất lớn để Việt Nam không chỉ định hướng về thu hút FDI mà còn thay đổi hoạt động quản trị nhà nước, DN và kinh doanh trong nước theo hướng của cuộc CMCN 4.0.

Ông Mại cho biết, đã tới lúc cần thay đổi một cách cơ bản định hướng thu hút FDI, dựa trên yếu tố kinh tế Việt Nam đã đạt được trình độ tương đối cao cho nên đòi hỏi về chất lượng vốn FDI cũng phải cao hơn.
Chúng ta có khoảng 620.000 DN nội đang hoạt động, trong đó có nhiều DN, tập đoàn lớn, đủ sức gánh vác với những công việc trước đây chỉ có thể dựa vào khu vực đầu tư nước ngoài…

Đặc biệt, trong cuộc CMCN 4.0 lần này, Việt Nam không thể tiếp tục đứng ngoài cuộc. Có thể thấy, lĩnh vực công nghệ thông tin hay nhiều công nghệ tương lai khác như điện toán đám mây đang phát triển rất mạnh tại Việt Nam.

“Đây là cơ hội rất lớn nếu Việt Nam có định hướng mới cho thu hút FDI, tập trung vào nguồn chất lượng cao hơn, vào các công nghệ tương lai, dịch vụ của tương lai thì sẽ có khả năng nhanh chóng đuổi kịp trình độ phát triển của các nước tiên tiến trong khu vực”, ông Mại nhận xét.

Như vậy, chiến lược thu hút FDI trong điều kiện mới bên cạnh định hướng thu hút FDI theo ngành, lĩnh vực, nhà đầu tư, cũng cần coi trọng đầu ra của chiến lược, nhất là tạo liên kết sản xuất giữa DN FDI với DN trong nước, tạo cơ hội cho DN trong nước tham gia mạng lưới sản xuất của DN FDI.

Chiến lược thu hút FDI cần hướng tới lợi ích chung của quốc gia, khuyến khích các địa phương hợp tác và cạnh tranh thu hút FDI thông qua hình thành các cụm ngành không giới hạn, bởi vì địa giới hành chính là nhằm mục đích sử dụng nguồn lực hiệu quả và có trách nhiệm.

Bà Nguyễn Thị Tuệ Anh – Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương

Là nước thuộc thế hệ công nghiệp hóa thứ sáu của thế giới, Việt Nam đã phụ thuộc nhiều vào FDI trong điều kiện nội lực yếu kém và các nguồn cung cấp FDI xung quanh Việt Nam phần lớn chưa đạt đến trình độ cao về công nghệ và văn hóa kinh doanh. Trong giai đoạn tới, Việt Nam cần nỗ lực đẩy mạnh công nghiệp hóa cả diện rộng và bề sâu mới tránh được hiện tượng chuyển sang thời đại hậu công nghiệp hóa quá sớm. 

Ông Võ Đại Lược – Giám đốc Trung tâm Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương

Để khuyến khích các DN FDI liên doanh, liên kết với các DN Việt Nam nhiều hơn nên hạn chế tối đa các DN FDI đầu tư 100% vốn. Cũng như các mức ưu đãi về thuế, mặt bằng sản xuất phải do Chính phủ quyết định, chính quyền các cấp không được tùy tiện ưu đãi, tránh ồ ạt trong việc “trải thảm” kêu gọi nhà đầu tư. 

Ông Trần Văn Thọ – Đại học Waseda Tokyo

Trong bối cảnh dịch chuyển dòng vốn FDI quốc tế và trong khu vực diễn ra linh hoạt hơn theo xu hướng hội nhập, Việt Nam cần đổi mới tư duy mạnh mẽ để khai thác hiệu quả nguồn vốn này phục vụ cho mục tiêu đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế của Việt Nam theo hướng nhanh và bền vững. 

Lê Thúy-LM