Cảnh báo ngành mía đường có nguy cơ “chết yểu”

Cảnh báo ngành mía đường có nguy cơ “chết yểu” khi thuế nhập khẩu đường giảm về 5% vào năm 2018 theo cam kết hội nhập ASEAN đã từ mấy năm nay. Tuy nhiên, càng sát “giờ G”, nỗi lo càng lớn hơn khi năng lực nội tại từ khâu sản xuất, chế biến cho đến phân phối của ngành dường như vẫn “dậm chân tại chỗ”.

Lùi thời gian giảm thuế về 5% có “cứu” được ngành đường
Lùi thời gian giảm thuế về 5% có “cứu” được ngành đường

Bộ Công Thương dự kiến, năm 2017, tổng nguồn cung đường cả nước khoảng 1,7 triệu tấn, trong đó sản xuất khoảng 1,3 triệu tấn, tồn kho đầu năm hơn 280 tấn và nhập khẩu 119.000 tấn. Đến thời điểm này, theo Hiệp hội Mía đường Việt Nam (VSSA), giá đường tinh luyện tại hàng loạt nhà máy trong nước đã giảm xuống đáy ở mức 12.000 đồng/kg.

Bế tắc đầu ra

Tính từ ngày 10/10 đến nay, các nhà máy đường của Việt Nam đã sản xuất được 10.000 tấn đường, cộng với khoảng 300.000 tấn đường đang tồn trong kho. Hiện tại đang là giai đoạn cao điểm, các doanh nghiệp (DN) cần mua đường phục vụ cho công việc sản xuất, chế biến bánh kẹo, hàng hóa phục vụ Tết Nguyên đán. Song theo các DN, dù giá thấp, nguồn cung lớn nhưng đầu ra rất bế tắc, tồn kho lớn.

Trước đó, báo cáo rà soát phát triển mía đường của Bộ NN&PTNT cũng cho thấy tồn kho của các nhà máy (không tính các DN thương mại trung gian) trong 10 năm trở lại đây có tốc độ tăng trưởng rất cao, bình quân 25,5%/năm (2005 – 2014). Niên vụ 2015 – 2016, tồn kho chuyển vụ là 104.275 tấn, gấp 8 – 9 lần so với năm 2005.

Theo ông Phạm Quốc Doanh, Chủ tịch VSSA, nguyên nhân là do các DN đang chờ đợi thêm hai tháng nữa, vào đầu năm 2018, Việt Nam chính thức thực hiện lộ trình cam kết Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), tức là các nước trong khối sẽ không còn bị hạn chế nhập khẩu đường vào Việt Nam, đồng thời giảm thuế suất nhập khẩu xuống 5%.

Chính vì vậy, VSSA lo ngại, đầu năm 2018, nếu bỏ hạn ngạch thuế quan đối với đường như cam kết Hiệp định ATIGA trong khối ASEAN, các nhà máy đường có công suất nhỏ và công nghệ lạc hậu sẽ gặp khó khăn, có thể sẽ chuyển hết sang nhập đường thô tinh luyện và không thu mua mía của nông dân.

thòi nhất sẽ chính là người nông dân trồng mía. Nếu DN gặp khó khăn sẽ phải giảm giá thu mua mía xuống, không thể giữ mức giá tối đa 850.000 – 1 triệu đồng/tấn mía như hiện nay. “Ước tính sẽ có khoảng 33 vạn hộ nông dân với 1,5 triệu lao động tham gia trồng mía cho các nhà máy đường gặp khó khăn”, ông Doanh nói.

Chưa kể, theo VSSA, nếu thực hiện ngay cam kết Hiệp định ATIGA với khối ASEAN, chắc chắn ngành mía đường trong nước sẽ bị Thái Lan thôn tính. Hiện sản lượng đường của Thái Lan là 11 triệu tấn/năm, chỉ riêng đường lậu của Thái Lan cũng đã khiến cho DN mía đường trong nước điêu đứng.

Theo Tổ chức Đường Thế giới (ISO), lượng đường nhập lậu vào Việt Nam mỗi năm tương đương khoảng 1/3 tổng sản lượng của toàn ngành. Hiện nay, giá đường trong nước cao hơn đường ngoại nhập thế giới nên buôn lậu đang ráo riết vận chuyển hàng qua biên giới vào Việt Nam với nhiều chiêu trò và thủ đoạn tinh vi.

Do đó, VSSA đã kiến nghị lên Thủ tướng Chính phủ đề nghị cho lùi thời gian thực hiện cam kết trong khối ASEAN theo Hiệp định ATIGA đến năm 2022, nếu sớm hơn là 2020. Thay vào đó, lượng nhập khẩu hạn ngạch sẽ tiếp tục được tăng lên 10% so với mức 5% của năm 2017.

Tuy nhiên, vấn đề của ngành mía đường không chỉ là việc thuế nhập khẩu mà quan trọng hơn là phải tái cơ cấu sản xuất để giảm giá thành, chế biến sản phẩm đa dạng để đường Việt Nam cạnh tranh ngay tại thị trường trong nước và hướng tới xuất khẩu.

“Cứu” cách nào?

Theo các chuyên gia, mấy năm qua, ngành mía đường dù đã nỗ lực nhiều để giảm giá thành, nâng chất lượng song so với các quốc gia trong khu vực vẫn còn thua kém.

Điển hình như Thái Lan có khoảng 1,5 triệu ha diện tích trồng mía, gấp 5 lần Việt Nam nhưng sản lượng đường gấp 8 lần, giá trị thu về mỗi năm hơn 6,355 tỷ USD. Philippines có 450.000ha mía, mỗi vụ sản xuất được 2,5 triệu tấn đường, giá trị đạt hơn 1 tỷ USD mỗi năm. Trong khi đó, Việt Nam với 300.000ha trồng mía, sản lượng đạt khoảng 1,5 triệu tấn đường nhưng giá trị chỉ gần 975 triệu USD.

Gs. Võ Tòng Xuân, chuyên gia nông nghiệp, đánh giá, một tấn đường Việt Nam sản xuất cao gấp 2,5 lần so với Brazil, gấp đôi Thái Lan. Nguyên liệu trong giá thành đường tại Việt Nam vào khoảng 13.000 đồng/kg, trong khi Thái Lan là 8.000 đồng/kg, mức trung bình của thế giới khoảng 10.000 đồng/kg.

Hơn nữa, nghịch lý đang diễn ra với ngành mía đường là niên vụ 2016 – 2017, giá thành sản xuất đường còn cao do giá mía nguyên liệu cao. Chưa kể, diện tích trồng mía giảm mạnh do nông dân chuyển sang trồng các cây khác có giá trị cao hơn như cây ăn quả, dẫn tới nguyên liệu cho các nhà máy chế biến đường thiếu hụt, không đáp ứng đủ theo công suất của nhà máy.

Chỉ ra nguyên nhân, theo các DN, nhiều năm trở lại đây, sản lượng đường của Việt Nam đã tăng lên nhờ đầu tư vào khâu giống nhưng số lượng vẫn thấp hơn Thái Lan và Philippines. Một phần vì chính sách phát triển mía đường của các nước trong khu vực tốt hơn Việt Nam.

Trên thực tế, Philippines hiện có chiến lược đa dạng hóa sản phẩm vì ngoài đường, quốc gia này sẽ sản xuất thêm xăng sinh học. Do đó, thị trường Việt Nam nếu muốn giảm giá thành sản phẩm nên ứng dụng phương thức này. Tuy nhiên, việc tiêu thụ xăng sinh học hiện nay đang gặp khó khăn do người tiêu dùng kém mặn mà.

Ông Phạm Hồng Dương, Chủ tịch HĐQT công ty Cổ phần Mía đường Thành Thành Công Tây Ninh, chia sẻ, ngành đường Việt Nam cần thay đổi nhiều, đặc biệt là hành lang pháp lý. Thái Lan, Philippnies đã có Luật Mía đường, Việt Nam đến nay vẫn chưa có. Ngành mía đường Việt Nam đạt mức tăng trưởng 134% từ năm 1997 đến nay nhưng có nguy cơ tụt hậu càng xa so với Thái Lan, Philippines.

Ở góc độ khác, chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong cho rằng bất cập lớn nhất của ngành mía đường hiện nay là thiếu gắn kết giữa DN với DN, DN với nông dân và chưa chủ động trong việc nhận diện thị trường cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh.

“Bản thân từng DN cũng như cộng đồng DN mía đường phải có sự điều chỉnh, nhất là tăng tính liên kết, phát triển chuỗi gắn với nông dân và thị trường trên cơ sở này đầu tư công nghệ, phân công cụ thể trong chuỗi giá trị”, ông Phong nói.

Bên cạnh đó, ngành mía đường cần đẩy mạnh thâm nhập các thị trường xuất khẩu trên thế giới. Tính đến tháng 9/2017, Việt Nam đã xuất khẩu được 43.000 tấn đường các loại sang 28 thị trường với giá trị trên 20,6 triệu USD nhưng chưa tương xứng với tiềm năng.

Cụ thể, khả năng đáp ứng đường nội địa của thị trường Trung Quốc chỉ đạt 85% nhưng Trung Quốc duy trì giá đường nội địa cao hơn giá đường thế giới nhằm bảo hộ nông dân nên đã tạo ra sự chênh giá rất lớn giữa hai thị trường này.

Ngoài thị trường Trung Quốc, đường của Việt Nam cũng xuất khẩu sang Indonesia, Singapore, Mỹ… nhưng tỷ trọng kim ngạch không đáng kể. Nguyên nhân vẫn là giá đường thành phẩm của Việt Nam cao, khó cạnh tranh.

Ông Nguyễn Xuân Cường – Bộ trưởng Bộ NN&PTNT

Tăng năng suất và giảm giá thành sản phẩm là lối đi của ngành đường trong bối cảnh hội nhập để tăng khả năng cạnh tranh. Các nhà máy đường cần chủ động giảm giá thành thông qua chính sách về giá bán, tạo lập kênh phân phối riêng, qua đó kiểm soát và bình ổn giá đường trong nước.

Ông Hoàng Anh Tuấn – Phó Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước Bộ Công Thương

Ngành mía đường cần phải tái cơ cấu để phát triển theo chiều sâu, tăng cường đổi mới quản trị, liên kết nhằm đảm bảo giảm giá thành sản phẩm. Bên cạnh đó, về khâu chế biến, ngành phải tiếp tục nghiên cứu sâu để chuỗi giá trị của đường dài hơn. 

Ông Phạm Hồng Dương – Chủ tịch HĐQT công ty Cổ phần Mía đường Thành Thành Công Tây Ninh

Ngành mía đường đang thiếu một kế hoạch bài bản cho phát triển lâu dài. Vì vậy, cần xây dựng chiến lược phát triển đến năm 2025, tầm nhìn năm 2030, liên minh, liên kết với hiệp hội mía đường các nước và đẩy mạnh đa dạng hóa thành phẩm. Cây mía không phải là cây xóa đói giảm nghèo, nhưng nếu có kế hoạch phát triển bài bản, nó sẽ là cây làm giàu. 

Lê Thúy-LM