Bất động sản xanh: “Trào lưu hay xu thế”

Gần đây rất nhiều chủ đầu tư đã nhấn mạnh yếu tố “xanh” khi công bố dự án nhà ở. Con số dự án tự nhận mình là xanh lên tới hàng trăm. Tuy nhiên, theo thống kê hiện cả nước mới chỉ có khoảng 60 dự án được công nhận là công trình xanh. Vậy câu hỏi đặt ra: “Bất động sản xanh chỉ là trào lưu hay xu thế tất yếu”?

Trên thực tế, nhiều chủ đầu tư muốn làm công trình xanh nhưng chưa có kinh nghiệm hoặc ngại chi phí tăng cao làm giảm lợi nhuận. Bài toán cân bằng chi phí đầu tư ban đầu và lợi ích lâu dài không dễ có câu trả lời. Đối với người tiêu dùng tâm lý chung vẫn thích “bất động sản xanh” nhưng việc phân biệt như thế nào là “xanh” thực sự và cân đối với chi phí phải bỏ ra để được hưởng tiện ích này cũng là điều cần lưu ý.

Hiện nay công trình bất động sản xanh còn ít được quan tâm nhưng là xu thế tất yếu trong lai tại Việt Nam
Hiện nay công trình bất động sản xanh còn ít được quan tâm nhưng là xu thế tất yếu trong lai tại Việt Nam

Tọa đàm với chủ đề “Bất động sản xanh: Trào lưu hay xu thế” diễn ra ngày 20/9/2017 tại TP Hồ Chí Minh với khách mời là các chuyên gia, nhà quản lý doanh nghiệp, lãnh đạo các cơ quan nhà nước có nhiều kinh nghiệm trên thị trường bất động sản đã đưa ra những phân tích, đánh giá, nhận định về bất động sản xanh. Từ đó cộng đồng xã hội, đặc biệt là người có nhu cầu về nhà ở đã có một cái nhìn đầy đủ, toàn diện về thực trạng và tương lai của bất động sản xanh tại Việt Nam.

Ông Đỗ Hữu Nhật Quang – Phó Chủ nhiệm Câu lạc bộ Kiến trúc xanh TP Hồ Chí Minh, cho biết: “Theo thống kê, hiện cả nước mới chỉ có khoảng 60 dự án được công nhận là công trình xanh. Tuy nhiên, nhiều chủ đầu tư ngại làm công trình xanh do lo ngại chi phí tăng cao. Mặc dù xét về lợi ích lâu dài thì phát triển công trình xanh sẽ đem lại giá trị bền vững kinh tế cũng như bảo vệ môi trường”.

“Công trình xanh có thể tiết kiệm 50% tiêu thụ năng lượng, giảm chi phí vận hành (thường chiếm hơn 80% chi phí đầu tư) so với thiết kế ban đầu. Qua đó, làm tăng giá trị tài sản, mức hoàn vốn đầu tư nhanh, hấp dẫn khách hàng”, ông Đỗ Hữu Nhật Quang, cho biết thêm.

Về giải pháp cho việc phát triển bất động sản xanh tại Việt Nam, GS Đặng Hùng Võ – Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên & Môi trường, cho rằng: “Các chủ đầu tư cần thay đổi tư duy về phân tích chi phí, lợi ích trên nguyên tắc đầy đủ và dài hạn. Quan trọng hơn, các cơ quan quản lý nhà nước phải có hệ thống quy định cụ thể và đầy đủ về bất động sản xanh”.

Đối với quá trình phát triển đô thị, việc có nhiều công trình xanh khi đi vào khai thác sử dụng sẽ góp phần thay đổi và chỉnh trang hạ tầng kiến trúc, quảng bá hình ảnh đô thị, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển kinh tế, giảm thiểu tác động xã hội, tạo lập môi trường sống bền vững.

Ông Trần Trọng Nghĩa – GĐ Công ty CP dịch vụ và đầu tư Năng Lượng Xanh, cho biết: “Hầu hết các bộ tiêu chí đánh giá, chứng nhận công trình xanh đang được lựa chọn tại Việt Nam hiện nay như LEED (Hội đồng công trình xanh Mỹ), LOTUS (Hội đồng công trình xanh Việt Nam), EDGE (Tổ chức thương mại thế giới) hay Green Mark (Bộ Xây dựng Singapore) đều tập trung tiêu chí sử dụng năng lượng hiệu quả, trong đó có khuyến khích trang bị hệ thống năng lượng tái tạo”.

Tại Singapore, ngay cả nhà ở xã hội cũng yêu cầu phải đáp ứng một tỷ lệ xanh nhất định theo như quy định. Thế nhưng ở Việt Nam, bất động sản xanh vẫn còn ở dạng trào lưu nhất thời. Hiện ở Việt Nam đã hình thành một số dự án với triết lý phát triển xanh khá kiên định như Phú Mỹ Hưng (TP Hồ Chí Minh) hay Ecopark (Hà Nội). Các đơn vị này đã lựa chọn khu đất hợp lý về giá trị để có đầu tư xanh hợp lý, phát triển hạ tầng kết nối để nâng cao giá trị.

“Đây là điều rất tốt, song xét kỹ thì những dự án này cũng mới chỉ đảm bảo diện tích cây xanh mặt nước, mang đến môi trường xanh cho người dân, còn những yếu tố khác về năng lượng, sử dụng nguồn nước thì chưa thể gọi là đạt chuẩn. Số lượng công trình xanh ở Việt Nam còn hạn chế vì các tiêu chí bất động sản xanh gần như chưa có. Bên cạnh đó, chi phí đầu tư nhiều hơn làm giá thành cao hơn cũng gây áp lực lên cả nhà đầu tư và người tiêu dùng”, GS Đặng Hùng Võ, nhấn mạnh.

Dưới góc nhìn của lãnh đạo doanh nghiệp trực tiếp phát triển các dự án bất động sản xanh, bà Lưu Thị Thanh Mẫu – TGĐ Phúc Khang Corporation, cho biết: “Làm công trình xanh chi phí ban đầu tăng thêm khoảng 10% để thỏa mãn các tiêu chí đặt ra (tiêu chuẩn của LEED) nhưng tiết kiệm về lâu dài. Trong đó, hiệu quả giảm 30% sử dụng nước và tối thiểu 20% năng lượng”.

“Để đẩy mạnh việc phát triển các công trình xanh tại Việt Nam, cần có những ưu đãi về vốn vay đối với các doanh nghiệp phát triển nguồn nguyên liệu, để có nguyên liệu ở trong nước, từ đó doanh nghiệp có thể dùng vật liệu ở trong nước, giảm chi phí cho quá trình vận chuyển. Về phía khách hàng và người tiêu dùng, có thể ưu đãi đóng thuế thu nhập thấp nếu họ mua bất động sản xanh thay vì sản phẩm bình thường. Cũng cần ưu đãi phần nào thuế thu nhập đối với các doanh nghiệp đầu tư dự án bất động sản xanh”, bà Lưu Thị Thanh Mẫu, nhấn mạnh.

Theo các chuyên gia, bên cạnh việc thay đổi tư duy của các nhà đầu tư về phân tích chi phí đầu tư và lợi ích trên cơ sở dài hạn thì cần những hỗ trợ về mặt chính sách để thúc đẩy phát triển công trình xanh. Trong đó có việc hình thành các quy chuẩn kỹ thuật cụ thể về bất động sản xanh.

Trước mắt cần có một chương trình về cách thức phát triển bất động sản xanh, cần đưa ra những chính sách ưu tiên hỗ trợ, bù đắp lại chi phí cho các chủ đầu tư dự án xanh như có thể miễn một số loại thuế. Bước dài hơn nữa còn rất nhiều việc phải làm để BĐS xanh thực sự là xu thế tất yếu trong tương lai tại Việt Nam.

Anh Đức-DĐDN